Giáo Dục

Đề bài: Suy nghĩ của em về nhân vật chị Dậu qua đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” (Tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố)


Đề bài: Suy nghĩ của em về nhân vật chị Dậu qua đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” (Tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố). Theo đó, Baivan gửi đến các bạn 3 dàn bài + bài văn mẫu để các bạn có thể tham khảo. Từ đó, giúp các bạn có những bài văn hay nhất cho riêng mình.

Câu trả lời:

Bài mẫu 1: Suy nghĩ của em về nhân vật chị Dậu…

Dàn bài

1. Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhân vật cần phân tích

  • Ngô Tất Tố là nhà văn xuất sắc viết về đề tài ngươi nông dân trước Cách mạng Tháng Tám.
  • Trong đoạn trích ” Tức nước vỡ bờ” trong tiểu thuyết ” Tắt đèn”, nhà văn đã xây dựng thành công nhân vật chị Dậu. 

2. Thân bài:

  • Hoàn cảnh sáng tác 
    • Một trong những đoạn hay nhất để phản ánh hiện thực xã hội bấy giờ.
    • Đồng thời đã đẩy nhân vật chị Dậu trở thành hình mẫu tiêu biểu cho phụ nữ Việt Nam.
  • Số phận:
    • Chị Dậu có một hoàn cảnh vô cùng bi đát.
    • Anh Dậu chồng chị đã bị bắt trói đánh đập dã man. 
    • Là người nông dân nghèo, vì gánh nặng sưu thuế mà phải bán hết gánh khoai, ổ chó và đứa con gái là cái Tý cho ông Nghị Quế nhưng cũng không đủ…
    • Anh Dậu đang ốm nặng, bọn cường trói anh suốt ngay đêm sai tay chân vác anh về như cái xác chết rũ rượi. Mọi gánh nặng đổ dồn lên vai chị.
  • Phẩm chất
    • Cuộc sống đầy cơ cực rối ren mà còn phải chịu biết bao sự áp bức bóc lột đến kiệt quệ.
    • Sự vùng lên của chị cũng thể hiện một quy luật tất yếu của cuộc sống có áp bức có đấu tranh.
  • Đánh giá:
    • Với nghệ thuật xây dựng nhân vật, sử dụng vốn từ ngữ giàu có sinh động
    • Xây dựng thành công nhân vật chị Dậu
    • Thể hiện chiều sâu nhân đạo cũng như triết lý: Có áp bức thì sẽ có đấu tranh.

3. Kết bài:

  • Cảm nhận của em về nhân vật chị Dậu
  • Thông qua chị Dậu ta thêm hiểu hơn về cuộc sống của người nông dân trong xã hội cũ đồng thời ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của họ.

Bài văn

Cùng với Nam Cao, Vũ Trọng Phụng thì nhà văn Ngô Tất Tố cũng được biết đến là một cây viết xuất sắc của trào lưu văn học hiện thực phê phán 1930 -1945. Trong đó nổi tiếng nhất có thể kể đến tác phẩm Tắt đèn, nhân vật chị Dậu đã để lại cho người đọc nhiều suy ngẫm và ấn tượng sâu sắc.

Đoạn trích Tức nước vỡ bờ là một trong những đoạn hay nhất để phản ánh hiện thực xã hội bấy giờ. Đồng thời đã đẩy nhân vật chị Dậu trở thành hình mẫu tiêu biểu cho phụ nữ Việt Nam.

Chị Dậu có một hoàn cảnh vô cùng bi đát. Vì không có tiền sưu thuế cho chồng mà anh Dậu chồng chị đã bị bắt trói đánh đập dã man. Người đàn bà ấy đã phải chạy vạy khắp nơi để mong có nổi tiền nộp sưu cứu chồng. Ấy thế nhưng trong cái xã hội chỉ toàn những người khốn khổ như chị thì ai có thể cho chị hi vọng đây? Cực chẳng đã chẳng còn cách nào chị đành dứt ruột bán đi đàn chó, bán nốt dõng khoai và đứa con gái bảy tuổi đi. HÌnh ảnh đứa con gái khóc ngất “Xin u đừng bán con” khiến người đọc ám ảnh không thôi. Câu nói ấy như xát muối vào lòng của người mẹ. Chị cũng phải đứt từng đoạn ruột để bán đi đứa con của mình đấy chứ. Nhưng nếu không làm thì chị biết làm gì để cứu chồng đây?

Có tiền cứu chồng ra tưởng như vậy đã qua cơn bĩ cực thì hình như cuộc đời vẫn không ngừng trêu đùa chị. Bọn cường hào ác bá kéo đến bắt chị phải nộp khoản sưu cho đứa em chồng chết năm ngoái. Thử hỏi đến một suất sưu chị đã sức cùng lực kiệt rồi thêm suất nữa chị phải làm thế nào? Lấy đâu ra chó lấy đâu ra con mà bán nữa?

Thế nhưng dù hoàn cảnh khốn cùng đến đâu cũng không thể hoài nghi chị là một người vợ một người mẹ hết lòng vì chồng con. Khi anh Dậu được trả về chị tìm mọi cách cứu chữa cho chồng. Nhưng khốn đốn quá mức khiến chị chẳng còn có nổi nắm gạo nấu cho chồng bát cháo. Mà phải đến khi hàng xóm đến thăm hỏi cho mượn tạm bát gạo chị mới nấu tạm cho chồng được bát cháo loãng. Hình ảnh người vợ bế đứa con rúm ró ngồi an ủi chồng khiến bao người rơi nước mắt. Giữa tiếng tù và tiếng trống giục sưu nổi lên hình ảnh này như xua tan sự bất công và vô nhân tính. Chị Dậu người đàn bà tội nghiệp khẩn khoản mời chồng “thầy em cố ngồi dậy húp ít cháo cho đỡ xốt ruột” chứa đựng biết bao nhiêu tình yêu thương, quý trọng.

Thế nhưng khi thấy bọn cường hào ác bá tay roi tay thước lao vào nhà mình định bắt chồng đi lần nữa thì người đàn bà ấy đã vùng lên trở thành một con người khác. Chị Dậu đã vùng dậy trở nên cứng rắn hơn bao giờ hết. Hắn quát tháo bắt nhà chị phải nộp thêm một suất sưu nữa. Quát tháo không có khất sưu rồi hùng hổ định lao vào anh Dậu đã ngã vật ra phản. Chị Dậu trở nên yếu thế chị liên tục van xin khẩn khoản quỳ lạy thế nhưng thay vì cảm thông tên cai lệ xông vào bịch luôn mấy bịch vào ngực chị rồi tát đánh bốp vào mặt chị.

Lúc này dường như sự chịu đựng đã đến giới hạn “tức nước vỡ bờ” chị đã kiên quyết chống trả để bảo vệ nhân phẩm của mình đồng thời bảo vệ cả người chồng ốm đau của mình. Hình ảnh chị vùng lên nghiến hai hàm răng như thách thức : mày trói chồng bà đi mày cho mày xem, rồi nhảy vọt lên như một cách phản kháng vô cùng mạnh mẽ.

Nhà văn Ngô tất Tố vô cùng hả hê khi miêu tả cảnh vùng lên của chị Dậu. Từ chỗ khúm núm nhún nhường chị đã đứng lên ấn dúi khiến cho bọn chúng ngã chỏng quèo. Tên hầu cận lí trưởng bị chị túm tóc lẳng cho một cái ngã nhào ra thềm… Với chị hình như lúc này nhà tù thực dân đã chẳng còn đủ sức mạnh khiến chị run sợ nữa rồi.

Hình ảnh của chị Dậu trong buổi nộp sưu thuế cũng là hình ảnh chung của người nông dân khốn khổ thời bấy giờ. Cuộc sống đầy cơ cực rối ren mà còn phải chịu biết bao sự áp bức bóc lột đến kiệt quệ. Sự vùng lên của chị cũng thể hiện một quy luật tất yếu của cuộc sống có áp bức có đấu tranh.

Với việc xây dựng tình huống độc đáo, miêu tả chân thực ngôn ngữ dung dị gắn liền với đời sống nhà văn đã khắc học một nhân vật chị Dậu vô cùng thành công. Sự phát triển trong tâm lí của chị vô cùng phù hợp với hoàn cảnh. Một người đàn bà điển hình cho sự cần cù chịu khó yêu thương chồng con nhưng cũng tiềm ẩn bên trong là sức sống tiềm tàng mạnh mẽ khi cần.

Bài mẫu 2: Suy nghĩ của em về nhân vật chị Dậu…

Dàn bài

1. Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhân vật cần phân tích.

2. Thân bài:

  • Hoàn cảnh sáng tác:
    • Đoạn trích ” tức nước  vỡ bờ” được trích trong chương XVIII của tác phẩm “Tắt đèn” . 
    • Đoạn trích đã vạch rõ bộ mặt xấu xa tàn ác của bọn xã hội thực dân phong kiến đương thời.
    • Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ nông dân Việt Nam.
  • Hoàn cảnh:
    • chị Dậu là một người nông dân nghèo khổ, mộc mạc, hiền dịu đầy lòng vị tha và đức hi sinh cao cả. 
    • chị một mình cái thân xơ xác đôn đáo chạy vạy ngược xuôi để lo xuất sưu cho chồng, cho chú Hợi.
    • chị đành phải đứt ruột bán cái Tí, đứa con đầu lòng 7 tuổi bán đàn chó chưa mở mắt cùng một gánh khoai mà cũng chưa đủ tiền nộp sưu
    • Anh Dậu được khiêng về nhà rũ rượi như một cái xác chết.
  • Sự vùng lên của chị Dậu:
    • Lúc đầu, khi tên cai lệ và người nhà lý trưởng xồng xộc vào, chị đã cố van xin tha thiết, lễ phép, nhã nhặn.
    • chị đã thay đổi cách xưng hô không còn xưng cháu gọi ông mà lúc này là ông- tôi.
    • chị đã đứng lên vị thế ngang hàng, nhìn thẳng vào mặt tên cai lệ để đấu thách thức chúng.
    • Một sức mạnh phản kháng bị đẩy đến bước đường cùng chị đã vùng lên chống trả quyết liệt.

3. Kết bài: Cảm nhận của em về nhân vật.

Bài văn

Ngô Tất Tố là một nhà văn nổi tiếng, một nhà văn hiện thực xuất sắc, chuyên viết về nông thôn trước cách mạng. Ông có rất nhiều tác phẩm đặc sắc, một trong số đó tiêu biểu là tiểu thuyết ” tắt đèn”. Dưới ngòi bút hiện thực sinh động với khả năng tạo dựng tình huống truyện giàu kịch tính đã khắc họa rõ nét nhân vật, đặc biệt là nhân vật chị Dậu. Đó là một người phụ nữ nông dân nghèo khổ, vừa giàu tình yêu thương vừa có sức sống tiềm tàng mạnh mẽ, chị đại diện cho cảnh ngộ khốn khổ và phẩm chất tốt đẹp của người đàn bà  nhà quê trước năm 1945.

Đoạn trích ” tức nước  vỡ bờ” được trích trong chương XVIII của tác phẩm “Tắt đèn” . Đoạn trích đã vạch rõ bộ mặt xấu xa tàn ác của bọn xã hội thực dân phong kiến đương thời – xã hội đã đẩy người nông dân lương thiện vào cảnh vô cùng cực khổ bế tắc khiến họ phải liều mạng cự lại, đồng thời đoạn trích còn cho thấy vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ nông dân Việt Nam cần cù lao động, giàu tình thương yêu chồng, thương con, dũng cảm chống lại bọn cường hào. Đoạn trích còn phản ánh một quy luật sống ở đời. Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh.

Trong truyện, chị Dậu là một người nông dân nghèo khổ, mộc mạc, hiền dịu đầy lòng vị tha và đức hi sinh cao cả. Trong những ngày sưu thế ngột ngạt, tai nạn luôn lảng vảng, rình rập xung quanh những gia đình nghèo thiếu thuế. Trong lúc nước sôi lửa bỏng chị một mình cái thân xơ xác đôn đáo chạy vạy ngược xuôi để lo xuất sưu cho chồng, cho chú Hợi- em trai chồng, chị đành phải đứt ruột bán cái Tí, đứa con đầu lòng 7 tuổi bán đàn chó chưa mở mắt cùng một gánh khoai mà cũng chưa đủ tiền nộp sưu, chồng chị vẫn bị đánh trói. Anh Dậu được khiêng về nhà rũ rượi như một cái xác chết. Chị đã nấu cháo, quạt cho nguội rồi đi rón rén bưng cháo cho chồng, ngồi xem chồng có ăn ngon miệng không? Qua đó, ta thấy chị Dậu là người phụ nữ Việt Nam đảm đang, dịu dàng, chu đáo, tháo vát, chịu thương, chịu khó, tần tảo, tận tụy, là người phụ nữ giàu tình yêu thương chồng con hết mực.

Chị Dậu đã phải vùng lên, đánh nhau với người nhà lý trưởng và tên cai lệ để bảo vệ mạng sống cho chồng của mình. Lúc đầu, khi tên cai lệ và người nhà lý trưởng xồng xộc vào, chị đã cố van xin tha thiết, lễ phép, nhã nhặn vì biết chúng là ” người của nhà nước”. còn chồng chị là kẻ cùng định có tội. Chị run run xin khất rồi vẫn tha thiết van nài nhưng chúng không nghe. Tên cai lệ đã đáp lại chị bằng một quả ” bịch” vào ngực chị mấy bịch rồi sắn sổ tới trói anh Dậu. Chỉ khi đó chị mới liều mạng cự lại, bạn đầu chị cự lại bằng lí ” chồng tôi đau ốm ông không được phép hành hạ” , lúc này chị đã thay đổi cách xưng hô không còn xưng cháu gọi ông mà lúc này là ông- tôi. Bằng sự thay đổi đó chị đã đứng lên vị thế ngang hàng, nhìn thẳng vào mặt tên cai lệ để đấu thách thức chúng. Khi tên cai lệ không còn trả lời mà con tát  vào mặt chị Dậu mộ cái đánh bốp rồi nhảy vào cạnh anh Dậu thì chị đã đứng dậy với niềm căm giận ngùn ngụt ” chị Dậu nghiến hai hàm răng lại, mày chói ngay chồng bà đi bà cho mày xem”. Lúc này cách xưng hô  đã thay đổi, đó là cách xưng hô đanh đá của người đàn bà thể hiện sự căm thù ngùn ngụt khinh bỉ cao độ. Đồng thời, thể hiện tư thế của người đứng trên đầu kẻ thù và sẵn sàng chiến đấu, đè bẹt đối phương đấu lực với chúng, trong con người của chị Dậu như tiềm ẩn một sức mạnh phản kháng bị đẩy đến bước đường cùng chị đã vùng lên chống trả quyết liệt, thể hiện một thái độ bất khuất.

Mặc dù chị là người nông dân mộc mạc, hiền dịu đầy lòng vị tha và đức hi sinh cao cả, nhưng không hoàn toàn yếu đuối mà tiềm ẩn một sức mạnh phản kháng, ẩn sâu trong con người chị, chị là một phụ nữ có tính cách mạnh mẽ cứng cỏi với một tinh thần khỏe khoắn, dũng cảm một sức sống mạnh mẽ tiềm tàng nên sẽ không thể bị khuất phục trước những khó khăn cản trở nào.

Có thể nói chị Dậu là điển hình về cuộc đời và số phận của người nông dân trong xã hội cũ, dù sống trong hoàn cảnh tối tăm cực khổ nhưng họ vẫn ánh lên được phẩm chất cao đẹp của người nông dân hiền lành lương thiện giàu tình  yêu thương, giàu lòng tự trọng. Chị Dậu mang vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam, tiêu biểu cho tầng lớp phụ nữ nông dân giàu sức sống dưới ách áp bức của chế độ nửa thực dân nửa phong kiến khi chưa bắt gặp ánh sáng đảng.

Bài mẫu 3: Suy nghĩ của em về nhân vật chị Dậu…

Dàn bài

1. Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm.

2. Thân bài:

  • Thông điệp của tác phẩm.
  • Hoàn cảnh:
    • Chị phải bán chó, bán khoai và đứt ruột bán đứa con bảy tuổi để đủ tiền nộp sưu cho chồng. 
    • Anh Dậu bị ốm, bị trói suốt ngày đêm, anh ngất xỉu như cái xác chết.
  • Phẩm chất:
    • Chị Dậu là một người phụ nữ cứng cỏi, dũng cảm, có tinh thần phản kháng chống cường quyền mặnh liệt.
    • Để bảo vệ tính mạng cho chồng và nhân phẩm của bản thân, chị Dậu đã kiên quyết chống cự.
  • Nhận xét về nghệ thuật.

3. Kết bài: cảm nhận của em về nhân vật và hình ảnh người phụ nữ trong xã hội cũ.

Bài văn

Tác giả Ngô Tất Tố là nhà văn của những người nông dân. Ông là nhà văn xuất sắc, tiêu biểu của trào lưu văn học hiện thực phê phán trước cách mạng tháng Tám. Nói đến Tắt đèn là chúng ta nhớ đến nhân vật chị Dậu. Đó là một người phụ nữ nông dân nghèo khổ, cần cù lao động, giàu tình thương yêu chồng con, dũng cảm chống lại cường hào.

Với đoạn trích Tức nước vỡ bờ, ông dã phản ánh lại cảnh thu thuế của xã hội ngày xưa đồng thời qua đó ông muốn lên án, phê phán chế độ thực dân nửa phong kiến bất công vô nhân đạo. Cảnh Tức nước vỡ bờ dã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc về nhân vật chị Dậu – một người phụ nữ điển hình biểu tượng cho người phụ nữ Việt Nam.

Hoàn cảnh của chị Dậu thật đáng thương. Chị phải bán chó, bán khoai và đứt ruột bán đứa con bảy tuổi để đủ tiền nộp sưu cho chồng. Tưởng mọi chuyện đã xong và anh Dậu được về nhà nhưng bọn chúng lại còn bắt chị nộp thêm tiền sưu cho chú em chồng đã chết. Nộp một suất đã làm cho chị khổ lắm rồi nay nộp thêm suất nữa thì chị lấy đâu ra khoai, lấy đâu ra chó, lấy đâu ra con để bán mà nộp bây giờ? Anh Dậu bị ốm, bị trói suốt ngày đêm, anh ngất xỉu như cái xác chết. Bọn cường hào cho người vác anh Dậu về trả lại cho chị Dậu. Đau khổ, tai họa chồng chất, đè nặng lên người chị làm cho chị khốn đốn vô cùng.

Cuộc đời là vậy, chị làm chăm chỉ, cần cù lao động quần quật nhưng chị vẫn nghèo, vẫn khổ, vẫn đói. Thế nhưng chị Dậu là một người vợ, một người mẹ giàu tình thương yêu chồng con. Khi anh Dậu được trả về với cái xác không hồn chị đã tìm mọi cách cứu chữa cho chồng. Hàng xóm kéo đến an ủi, người cho vay gạo nấu cháo… Tiếng trống, tiếng tù và đã nổi lên. Chị Dậu cất tiếng khẩn khoản, tha thiết mời chồng: Thầy em cố ngồi dậy húp ít cháo cho đỡ xốt ruột. Lời người dàn bà nhà quê mời chồng ăn lúc hoạn nạn chứa đựng biết bao tình thương yêu, an ủi, vỗ về. Cái cử chỉ của chị Dậu bế cái Tỉu cố ý chờ xem chồng ăn cổ ngon miệng hay Không đã biểu lộ sự săn sóc và yêu thương của người vợ vởi người chồng đang đau ốm, tính mạng đang bị bọn cường hào de dọa.

Chị Dậu là một người phụ nữ cứng cỏi, dũng cảm, có tinh thần phản kháng chống cường quyền mặnh liệt. Bọn cai lệ và tên hầu cận lý trưởng với tay thước, tay roi, dây thừng lại sầm sập xông vào nhà chị Dậu thét trói kẻ thiếu sưu. Anh Dậu vừa run rẩy kề miệng vào bát cháo, nghe tiếng thét của tên cai lệ anh đã lăn đùng xuống phản. Tên cai lệ gọi anh Dậu là thằng kia, hắn trợn ngược hai mát quát chị Dậu : Mày định nói cho chú mày nghe đấy à? Sưu của nhà nước mà cũng mở mồm xin khất. Chị Dậu đã hạ mình van xin, lúc thì run run, xin khất, lức thì thiết tha xin ông trông lại. Chị Dậu càng van xin thì bọn chúng càng hung hăng, dữ tợn hơn. Tên cai lệ đùng đùng… giật phát cái dây thừng trong tay anh hầu cận lý trưởng, hắn chạy sầm sập đến chỗ anh Dậu để bắt trói điệu ra đình chị Dậu van xin hắn tha cho… thì hắn bịch luôn vào ngực chị mấy bịch, tát đánh bốp vào mặt chị rồi nhảy vào cạnh anh Dậu.

Trước thái độ của bọn cường hào, mọi sự nhẫn nhục đều có giới hạn. Để bảo vệ tính mạng cho chồng và nhân phẩm của bản thân, chị Dậu đã kiên quyết chống cự chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ. Không chịu lui bước, chị Dậu nghiến hai hàm răng như thách thức: mày trói chồng bà đi, bà cho mày xem.

Tư thế của chị Dậu có một bước nhảy vọt. Từ chỗ nhún mình tự gọi là cháu xưng ông, sau đó lại là tôi với ồng cuối cùng là bày chồng bà với mày. Chị Dậu đã phản kháng. Tên cai lệ bị chị túm lấy cổ, ấn dúi ra cửa làm cho bọn chúng ngã chỏng quèo. Tên hầu cận lý trưởng bị chị túm tóc lẳng cho một cái ngã nhào ra thềm. Với chị nhà tù thực dân chẳng làm cho chị run sợ.

Ngô Tất Tố đã hả hê khi tả cảnh chị Dậu cho tên cai lệ và tên hầu cận lý trưởng một bài học đích đáng, ông đã chỉ ra một quy luật tất yếu trong xã hội có áp bức, có đấu tranh.

Ngô Tất Tố đã miêu tả một cách rất chân thực, đã xây dựng một đoạn văn như một màn kịch vừa có bi vừa có hài. Cách sử dụng ngôn ngữ đối thoại nhuần nhuyễn, hợp lý, sử dụng lời ăn tiếng nói rất bình dị của đời sống hàng ngày. Mỗi nhân vật đều có ngôn ngữ riêng để thể hiện tính cách của mình. Ông đã thành công trong việc khắc họa nhân vật điển hình : chị Dậu – một người phụ nữ cần cù, chịu khó và có sức sống tiềm tàng mạnh mẽ, mang những vẻ đẹp của người phụ nữ nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button
You cannot copy content of this page